• Nguyền xin ân điển của Đức Chúa Jêsus chúng ta ở cùng anh em (Rô-ma 16:20)

HỘI ĐỒNG BỒI LINH

TỪ NGỤC TÙ ÐẾN TỰ DO -VÒNG NGUYỆN CẦU

Chỉ 48 giờ sau khi quân đội Taliban tháo chạy khỏi thủ đô Kabul, thành phố nầy nhanh chóng trở lại với những sinh hoạt tự do bình thường, nhưng trước đây lại bị nghiêm cấm dưới thời Taliban theo luật Hồi Giáo Sharia.
Phụ nữ được giải phóng khỏi những nhà tù di động theo định nghĩa của Taliban, tức là những bộ quần áo burqa trùm kín đầu mà họ phải chịu đựng. Lần đầu tiên những gương mặt phụ nữ rạng rỡ nụ cười lại xuất hiện trên đường phố.

Sau khi chiếm Kabul năm 1996, nhà cầm quyền Taliban ra lệnh cấm không cho phụ nữ ra ngoài làm việc, cấm phụ nữ đi học, cấm phụ nữ rời khỏi nhà nếu không có chồng, cha, anh hay con trai đưa đi.
Trước công chúng, phụ nữ phải che kín từ đầu tới chân bằng aó thụng chỉ được để hở chỗ mắt nhìn và chỗ để thở mà thôi. Họ không được đi tất trắng hay giày trắng vì màu trắng là màu cờ của Taliban, không được đi giày có tiếng động. Các nhà và dinh thự nơi công cọng phải sơn các cửa sổ nếu có phụ nữ. Ðóng của các trường học cho sinh viên nữ và không cho phép các bé gái trên 8 tuổi được đến trường. Chính phủ nghiêm cấm phụ nữ không được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và buộc phải che mạng lại tại những nơi công cọng.
Najeeba, một hoá phụ 35 tuổi người Kabul cho biết: “Cuộc sống phụ nữ dưới thời Taliban thật là tồi tệ, chúng tôi bị nhốt trong nhà, như nhà tù hầu như không được nhìn thấy ánh mặt trời.”

Bà Laura Bush, phu nhân Tổng thống Hoa Kỳ, lên án các hành động hà khắc của Taliban đối với nữ giới: “Cuộc sống của nữ giới tại A-phú-hãn, dưới ách cai trị của Taliban thật khắc nghiệt, hầu như không có chỗ cho cả những niềm vui nhỏ nhất khi trẻ em bị cấm thả diều, các bà mẹ không được phép cười nói và phải chịu đựng đòn vọt. Phụ nữ không được phép đi học, làm việc. Phụ nữ A-phú-hãn chả khác nào bị bỏ đói vì họ bị cấm ra ngoài một mình.” Bà Bush nói khi người A-phú-hãn ngồi lại với nhau bàn định chính phủ, tôi muốn ở đó có nhiều tiếng nói bảo đảm nhân quyền căn bản cho phụ nữ và trẻ em.”

Liên Hiệp Quốc đang bảo trợ một cuộc đàm phán về tương lai chính trị của A-phu-ùhãn, tại Bonn, Ðức quốc, ngày 26 tháng 11 năm 2001. Có nhiều thành phần tham dự, dể thành lập một chình phủ chuyển tiếp. Trong phái đoàn của cựu vương Zahir Shah, có hai phụ nữ…

Trong bài diễn văn đọc trong ngày lễ Tạ-ïơn, Tổng thống Bush nói: “Chúng Ta hãy cảm ơn Thượng Ðế về nhiều ân sủng mà chúng ta đang được hưởng, đó là một đất nước tự do, tin tưởng và cởi mở.”

Khi đọc bản tin thời sự trên, chúng ta thương cảm cho các phụ nữ A-phú-hãn. Từ một quốc gia trước đây nhân quyền được tôn trọng: nữ giới chiếm 70% lượng giáo viên, 50% lượng nhân viên chính phủ, 40% số lượng bác sĩ tại thủ đô Kabul, 15% quốc hội. Sau khi Taliban chiếm, họ đã tước đoạt mọi quyền tự do của phái nữ và thực hiện một xã hội theo giáo điều Sharia khiến 65% nữ giới thành nô lệ. Trong năm năm qua, nhiều buồn thảm, đau khổ, uất hận và tiếng khóc than của nữ giới A-phú-hãn đã được phủ kín dưới nhà tù di động là chiếc áo burqa. Ngày nay họ được cỡi trói, được giải thoát, được tự do, được trực tiếp nhìn những cành hoa tươi thắm không chắn bởi màn che, được nở ra những nụ cười dưới ánh nắng mà không bị cản trở bởi lưới phủ mặt. Ðược thưởng thức làn gió mát, được thở không khí trong lành không qua chiếc áo thụng phủ đầu. Họ được tự do!

Sự tự do của của nũ giới A-phú-hãn mới có lại trong vài tuần gần đây, sau khi chính phủ Taliban sụp đổ, chỉ là một tự do tối thiểu của nhân quyền, quyền sống và phát triễn khả năng nhân cách mình.

Tự do không phải chỉ trong điều kiện vật chất, không phải thoát khỏi giới hạn trong việc đi lại, giao tiếp với người, vật xung quanh,
Tự do thật là tự do làm được điều mà tâm linh mình muốn làm. Phao-lô, một học giả, có địa vị, có danh vọng, đạo đức và quyền lực. Cứ tưởng cậy vào ý chí ông có thể có một đời sống tự do làm vui lòng Thiên Chúa. Ôâng nói về kinh nghiệm mình: “Khi muốn làm điều tốt, tôi lại làm điều xấu. Dù trong thâm tâm tôi vẫn yêu thích luật Thượng đế “ (Rôma 7:21)
Khi Phao-lô muốn làm điều tốt nhưng lại không làm được, có một quyền lực thể xác áp bức ông, nó buộc ông làm điều xấu thay vì điều tốt, ông đang bị nô lệ bởi ham muốn tội lỗi của mình. Trong vô vọng, Phao-lô phải kêu lên: “Thật bất hạnh cho tôi ! Ai sẽ cứu tôi thoát ách nô lệ của thể xác hư hoại nầy? Sau cùng, ông đã tìm được giải pháp: “Tạ ơn Thượng đế, Tôi được giải cứu nhờ Chúa Cứu Thế Giê-xu.” (Roma 7:25)

Thiếu phụ Samari, trong thời Chúa Giê-xu, không bị “Taliban” áp chế bịt đầu, phủ khăn khi đi ra ngoài. Nhưng chị đã không dám đến nơi công cọng, nơi giếng nước lúc đông người vì chị nô lệ cho mặc cảm tội lỗi. Chị có năm đời chồng và người đang sống với chị cũng không phải là chồng của chị. Gặp Chúa Giê-xu, sau khi giảng giải về nước sống và tinh thần thờ phượng Thiên Chúa, chị được giải phóng. Với niềm vui tràn ngập, chị tình nguyện làm chứng nhân đem tin mừng cho thôn xóm mình. (Giăng 4: 7-30).

Chúa Giê xu, con Ðức Chúa Trời đến trần gian, không phải giải phóng con người khỏi chế độ chính trị hà khắc, dù chế độ đó là của đế quốc Hy Lạp, Lamã, của Hitler, Phát-xít độc tài, của Cọng Sản.. vì các chế độ chính trị sẽ thay đổi, sẽ chóng tàn.
Chúa đến giải phóng chúng ta khỏi áp bức cao siêu hơn, không phải của thể chất mà là tâm linh, không phải của những giới hạn về thân xác mà là linh hồn vĩnh cữu. Không phải chỉ giới hạn trong đời nầy mà là cả thời gian miên trường.
Một bài ca Trịnh công Sơn viết : “1000 năm đô hộ giặc Tàu, 100 năm đô hộ giặc Tây, bao nhiêu năm nội chiến từng ngày, gia tài của mẹ để lại cho con.. là nước Việt buồn.” Nỗi buồn mà Trịnh Công Sơn nhắc đến chỉ là nỗi buồn thể chất, ngắn hạn trong cõi đời nầy. Nhưng có một nỗi buồn to lớn hơn là nỗi buồn hư mất linh hồn đời đời do nô lệ của tội lỗi, nô lệ của tà thần, của vô tín, phù phép, pháp thuật, mê tín dị đoan…mà dân tộc ta đã và đang gánh chịu. Chúng ta cần, rất cần tình yêu và sự cứu rỗi của Thiên Chúa đến giải phóng, để dân tộc chúng ta tự do chiêm ngưỡng được những phước hạnh Ngài dành cho trong đời nầy và đời sau.
Lễ giáng sinh năm nay, chúng ta cùng nhau suy nghĩ đến bài ca của các thiên thần hát khen ngợi Chúa Cứu Thế trong đêm Ngài giáng trần: “Sáng danh Thiên Chúa Trời cao, bình an dưới đất cho người thành tâm”. Bạn sẽ nhận được bình an, được tự do, được giải phóng khi tìm đến với Chúa Giê-xu là Ðấng “băng bó những tấm lòng tan vỡ, tuyên cáo cho các nô lệ được tự do và mở cửa ngục tù để phóng thích những người bị xiềng xích, công bố năm đặc ân và ngày tưởng thưởng của Thượng đế.”(E-sai 61:1-2).
Chúa phán: “Nếu ta buông tha các con, các con sẽ thật được tự do.” (Giăng 8:36)
Hãy nhận lấy món quà tha thứ và tự do mà Chúa dành cho bạn trong mùa giáng sinh nầy.

VÒNG NGUYỆN CẦU