• Nguyền xin ân điển của Đức Chúa Jêsus chúng ta ở cùng anh em (Rô-ma 16:20)

HỘI ĐỒNG BỒI LINH

BUỘC TỘI HAY THA THỨ - VÒNG NGUYỆN CẦU

Mẫu phân tử di truyền DNA đầu tiên được biết vào năm 1869 . Tuy nhiên mãi cho đến năm 1944 thì nó mới có tên gọi hịên nay là Deoxyribonucleic Acid, viết tắt là DNA và tầm quan trọng của nó mới được các khoa học gia hiểu đến. Năm 1986 DNA lần đầu tiên được dùng như bằng chứng trước tòa liên quan đến hai vụ hiếp dâm tại Anh. Trong vụ án nầy nghi can chính dược xử vô tội và nhiều người đã bị buộc phải đi thử DNA, sau đó nhờ vào các mã số DNA nầy mà thủ phạm hai vụ án nói trên đã sa lưới pháp luật.
Anh Wayne Butter tưởng rằng không ai biết được tội ác của anh, nhưng cuối cùng nhờ phương pháp phân tử di truyền đã phát hiện những bằng chứng không chối cải về hành vi sát nhân của anh. Và phải ra tòa nhận bản án đền tội. Cùng trong thời gian nầy một tù nhân khác tại Hoa kỳ vừa được trả tự do 9 ngày trước khi bị tử hình, sau khi xét nghiệm phân tử di truyền chứng tỏ anh nầy vô tội.
Theo các chuyên viên DNA thì khó có thể có hai người có phân tử di truyền giống nhau hoàn toàn, vì tỉ lệ giống nhau nầy chỉ là 1 phần 43 ngàn tỉ người trên khắp thế giới.
Tại Úc phân tử di truyền đã được dùng như một công cụ của viện công tố. Việc xét nghiệm phân tử di truyền các phạm nhân tại Úc cung cấp nhiều bằng chứng để minh oan cho những người vô tội.
Cho đến nay, 80 phạm nhân tử hình tại Hoa Kỳ đã được trả tự do sau khi các chuyên gia xét nghiệm phân tử di truyền, chứng nhận rằng những người nầy hoàn toàn vô tội. Chính vấn đề trên đã làm bùng lên sự phản đối mạnh mẽ yêu cầu hũy bỏ những bản án tử hình. Việc dư luận nghi ngờ rằng đã có nhiều người vô tội bị xử tử cách oan uổng. (1)

Trong thời Chúa Giê-xu còn tại thế, có một vụ án xảy ra, nạn nhân là một thiếu phụ phạm tội ngoại tình đang bị lên án tử hình theo giáo luật Do Thái. Người ta đem đến Chúa Giê-xu và chất vấn Ngài: “Thưa thầy, chị nầy bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Theo luật Mai-sen, người ngoại tình phải bị ném đá xử tử. Còn thầy nghĩ sao?
Chúa trả lời: “Trong các ông, người nào vô tội hãy ném đá chị ấy trước đi! ” Nghe câu ấy, họ lần lượt bỏ đi, người lớn tuổi đi trước. Sau cùng chỉ một mình Chúa. Thiếu phụ vẫn đứng trân một chỗ. Chúa đứng lên hỏi: “Này chị, họ đi đâu hết cả? Không ai lên án chị sao”
“Thưa Chúa, không ai cả!” chị đáp. Chúa ôn tồn: “Ta cũng không lên án chị đâu. Chị về đi, từ nay đừng phạm tội nữa!” (Giăng 8: 4-11).

Chúa Giê-xu không cần dùng phân tử di truyền, nhưng đã đánh thức lương tâm của các người tố cáo, của các quan tòa xử án, họ đã nhận diện ra chính mình là tội nhân cũng giống như chị thiếu phụ. Ðiểm khác nhau giữa họ và phạm nhân là chữ "quả tang" là bị bắt gặp đang khi phạm pháp không thể chối cải. Tuy nhiên có biết bao tội lỗi, phạm pháp mà con người không bị bắt quả tang, họ đã ẩn giấu, trốn tránh, hoặc che lấp bởi nhiều cách khác nhau và không thể dùng phương pháp truy tầm bằng chúng nào buộc tội được.
Tuy nhiên, không gì có thể giấu diếm trước mặt Thiên Chúa. Với Chúa ban đêm giống như ban ngày, không có gì có thể che khuất Ngài được. Tội lỗi thực hiện trong nơi kín giấu cũng như nơi thanh thiên bạch nhật. Ngay cả những tội lỗi chưa phát hiện ra hành động, còn trong tâm trí, trong lòng, trong tư tưởng thì Thượng đế cũng biết cả rồi. "Chúa Hằng Hữu chẳng xem điều gì loài người xem. loài người xem bề ngoài nhưng Chúa Hằng Hữu nhìn thấy trong lòng."

Vua Ða-vít đã ý thức điều nầy trong bài thơ: "Tôi sẽ đi đâu xa Thần Chúa, Tôi sẽ trốn đâu khỏi mặt Chúa? Nếu tôi lên trời, Chúa ở tại đó, ví tôi nằm dười âm phủ, kìa Chúa cũng có tại đó.. Sự tối tăm không thể giấu chi khỏi Chúa. Ban đêm soi sáng như ban ngày và sự tối tăm cũng như ánh sáng cho Chúa." (Thi-thiên 139:7, 12) vì thế sau khi lầm lỡ phạm tội, Ða-vít được tiên tri cáo trách, ông không chối bỏ, không tự biện hộ minh oan cho mình hay đổ lỗi cho người khác, ông ăn năn với Chúa, nhìn nhận tội lỗi và được tha thứ.

Tờ New York time ngày 17–03 -1994 có đăng: Oâng Ricardo Caputo, một tội phạm quan trong của toà anù liên bang . Oâng đã giết chết bốn người vợ ông đã cưới và ăn ở trong thời gian 20 năm. Bằng nhiều thủ đoạn khéo léo, ông đã trốn thoát khỏi bao nhiêu mạn lưới bao vây lùng bắt của toà án liên bang. Tuy nhiên sau 20 năm, ông đã ra đầu thú ty cảnh sát tại Mineola, Nữu ước, bởi vì lương tâm cắn rức không thể chịu nổi.

Thiếu phụ trong câu chuyện trên, thoát khỏi bản án tử hình, không phải nhờ vào phân tử di truyền để minh oan cho chị vô tội, nhưng chị thoát khỏi sự đoán phạt vì chị nhờ vào sự tha thứ của Chúa Giê-xu.

Nếu bạn và tôi có mặt hôm ấy, qua câu nói của Chúa Giê-xu, có thể chúng ta cũng bỏ đi và không dám ném đá vào chị vì chúng ta không phải là người vô tội.
Ý thức tội lỗi mình rồi bỏ đi, không phải là thái độ đúng. Dù chúng ta bỏ đi nơi nào, chúng ta trốn tránh nơi đâu, dù che dậy dưới hình thức nào, tội lỗi vẫn còn đó. Vẫn là một gánh nặng u sầu trong tâm linh, một ray rức trong lương tâm, một bất an liên tục trong lòng và là một khốn khổ sâu kín trong cuộc đời.

Phương thức để thoát khỏi lên án sau khi mình đã lầm lỡ phạm lỗi là "được tha thứ". Thiếu phụ trong câu chuyện trên, không bỏ trốn, không về nhà. Nhưng chị đứng lại đối điện với Chúa Giê-xu nhận lấy sự tha thứ của Ngài và chị đã được giải cứu.

Kinh thánh cho biết " Nếu chúng ta xưng tội mình, thì Chúa là thành tín công bình, tha thứ tội cho chúng ta và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác." (2)
Chúa Giê-xu phán: "Nếu ta buông tha các con. Các con thật được tự do.".. kẻ đến cùng ta, ta chẳng bỏ ra ngoài đâu"..(3)
Xin mời bạn đến với Chúa Giê-xu để nhận tình yêu, sự tha thứ, sự bình an và sự sống miên trường.

Chúa kêu gọi: “Hãy đến thảo luận với Ta! Dù tội các con đen như mực xạ, Ta sẽ tẩy sạch như tuyết trong ngần, dù đỏ như son, Ta sẽ phiếu trắng hơn lông chiên tinh khiết” (Ê-sai 1:18 Bản diễn ý)

VÒNG NGUYỆN CẦU
_______________________________________________________________________
(1) VB online, (2) I Giăng 1:19, (3) Giăng 8:36,