• Vì Đức Giê-hô-va là lớn, rất đáng ngợi khen, Đáng kính sợ hơn các thần. (1 Sử-ký 16:8)

HỘI ĐỒNG BỒI LINH

ƠN LẠ LÙNG -Nguyễn Xuân Thanh Tuấn

Bạn thân mến, Nếu bạn đã từng đi lễ ở Hội Thánh Thiên Ân thì chắc đã nghe những lời làm chứng của tôi. Tuy nhiên, vì thời gian rất hạn chế trong giờ làm chứng tại Hội Thánh, nên tôi không nói hết những gì mà Chúa đã đưa tay Ngài ra cứu tôi. Có lẽ qua những dòng chữ tâm tình nầy, hy vọng rằng các bạn biết thêm về Chúa Giê-xu.
Tôi được sinh ra và lớn lên tại Việt nam. Cha mẹ tôi là những người thờ cúng ông bà, đi chùa, ăn chay, niệm Phật. Cha mẹ làm sao thì tôi làm vậy, không biết gì.
Sau biến cố 1975, cha tôi bị đi tù cải tạo, mẹ tôi từ một người công chức ở Sài Gòn phải về quê Bến Tre lăn lộn với ruộng nương. Lúc ấy tôi khoản 11 tuổi. Khoảng năm 1978 tới 1980, Việt Nam lâm vào cảnh đói kém lớn, thêm chiến tranh với nước Campuchia ở miền Tây. Mẹ và anh em chúng tôi thì húp cháo mỗi ngày. Là anh hai trong gia đình nên mọi sự tôi phải đương đầu, và cha tôi không biết ngày nào trở lại.
Cho đến khi tôi được 17 tuổi thì cha tôi được thả về, và cũng năm đó tôi đậu lớp 10. Bắt đầu từ đây, có gì đó thay đổi hướng nhìn của tôi. Tôi thật là thích thú khi được học về thiên văn học là một môn học nhàm chán của mọi người. Trong trường không có học sinh nào thích bàn tán với tôi về vũ trụ ngoài ông thầy dạy toán thực tập từ Sài Gòn về. Tôi đọc nhiều sách về vũ trụ, nhiều sách về thuyết tương đối…tôi hoàn toàn không mấy tán thành về thuyết Big-bang. Cuối cùng tôi thốt lên một lời mà kể cả hôm nay mẹ tôi vẫn còn nhắc "không có gì trong vũ trụ nầy là tự nhiên mà
có, phải có lực tác động" Tôi bắt đầu run sợ và hình dung ra có cái gì đó thật là siêu nhiên trong vũ trụ nầy. Khi tôi tốt nghiệp lớp 12, và cũng năm đó (1988) tôi thi rớt vào trường Bách Khoa….mọi niềm hy vọng điều tiêu tan. Tôi bắt đầu chán nản cuộc đời, không còn muốn thi cử gì nữa. Tôi trở lên Sài Gòn đi học nghề điện tử và học Anh văn. Sau biến cố 1975, gia đình tôi trở về quê, nên không còn có nhà ở Sài Gòn, nơi mà tôi đã được sinh ra. Tôi phải sống nhờ ở đậu với những người bà con bên nội, bên ngoại. Nay thì ở với người nầy, mai thì ở với người khác. Còn cha tôi sau khi được thả về cũng ở nhờ chổ nầy chổ nọ. Cha con tôi không có thể ở chung. Mẹ và hai em tôi ở dưới Bến Tre….Gia đình chúng tôi phân chia tứ tán. Tôi thật sự đã chán nản xã hội lúc đó, buồn tủi cho bản thân không ra gì. Ðầu óc lúc nào cũng căng thẳng không biết ngày mai có gì để sinh sống. Tôi cũng có suy nghĩ về niềm tin tôn giáo, và đi chùa xin xăm.
Năm 1989, nhờ gặp lại người bạn cũ cùng trường đã giới thiệu đi luyện thi lại và tôi đậu vào trường Bưu Chính Viễn Thông. Cuộc đời ăn chơi, kêu ngạo của tôi cũng bắt đầu từ đó. Sau khi ra trường tôi lại được một công việc tại Sài Gòn. Tôi bắt đầu tập tành nhậu nhetï, thuốc la,ù cái gọi là xã giao với mọi người. Ðêm về tôi vẫn trằn trọc rất khó ngủ, lòng luôn bất an. Ngày mai mình sẽ làm gì cho vừa lòng người nầy người kia. Suy nghĩ tìm những lời lẽ khôn ngoan nào mà có thể trả đủa lại với người ta. Tôi sống thật ích kỹ và dễ hờn giận. Tôi mà ghét ai thì người đó khó lòng làm hòa với tôi. Các bạn cũng được biết tôi có niềm tin theo những gì cha mẹ tôi làm. Tôi đi đến chùa Vĩnh Nghiêm để mua sách về đọc.
Tôi bỏ nhiều thời gian ra đọc nhiều sách nào Lịch Sữ Phật Học, Giãi luận Kinh-Thích Thanh Từ, Kim cang luận, thiền tông, chân thiền Zen….tôi cố gắng hết sức mình để tu tâm dưỡng tánh, ngồi thiền để được giây phút bình an. Cả năm ròng rã như vậy, tôi vẫn không thể tìm cho chính mình được một phút tịnh tâm thật sự như những gì người ta chỉ dẫn trong sách. Cuộc sống cuồn cuộn trôi nhanh, đó là cuộc sống thật mà mọi người không thể chối chạy, cứ lo lắng, cứ tính toán, so sánh, buồn bã…làm sao mà tôi có thể ngồi thiền để quên đi mọi sự đời! Cho đến ngày nào tôi ngã xuống, chết đi thì mới quên được sự đời. Tôi vẫn cho là mình không có duyên hay là không đạt được chánh quả, cho nên tôi lại dày công ra nghiên cứu một cách kỹ lưỡng. Tôi lại lo lắng nhiều khi biết rằng con người tôi tội lỗi đầy dẫy như thế nầy thì làm sao tu cho thành Phật được, và nếu hy vọng được làm con người kiếp sau thì càng lo sợ hơn. Chẳng lẽ đầu thai làm con thú nào đó, rồi tu cho tới chừng nào mới được siêu thoát…nhiều câu hỏi cứ làm tôi trằn trọc hằng đêm hơn. Tu thân tích đức cả đời mà chỉ một lần làm điều ác thì coi như luống công. Con người vốn là ác, tôi cố gắng sống thiện vì tôi cố gắng đè nén điều ác trong tôi. Nếu khi nào tôi lỡ quên thì điều ác lại thể hiện còn ác hơn nữa., tôi thu thập được một số kiến thức Phật giáo, tôi lại càng kiêu ngạo hơn lên. Ði đâu gặp ai thì cũng nói về triết lý sống, dạy đời. Tôi thường đi ngang nhà thờ Ðức Bà, và nhà thờ Tin Lành Sài Gòn góc đường Trần Hưng Ðạo và Ðề Thám, đó là khu phố quen thuộc của tôi từ lúc chào đời cho đến 5 tuổi. Nhưng tôi không gì ưa những người đi nhà thờ, và tôi có ác cảm với họ. Bởi tôi đã đọc nhiều sách lịch sữ thế giới và biết được những thập tự quân tàn ác, những giáo phẩm và giáo hoàng độc tôn.
Khi tôi được công việc và được căn phòng nho nhỏ ở tận lầu năm trong một toà nhà, trên đường Ðiện Biên Phủ, tôi có quen một người bạn tên là Tân. Tôi có thể quên mặt Tân, dù chúng tôi chỉ là bạn chơi chơi thôi. Lý do vì anh Tân nầy là người tin Chúa. Tôi không biết anh đi nhà thờ nào. Khi gặp anh thì tôi dùng hết khả năng khôn ngoan, kiến thức đời, Phật học để truyết lý với anh, còn anh ta thì cũng cải lý lại dữ dội lắm. Nhưng tôi không có nhớ gì hết. Tuy nhiên mỗi hành động và thái độ sống của anh ta thì tôi không quên. Tân có mời tôi đọc Kinh Thánh vài lần, nhưng tôi chẳng hiểu gì cả. Có một lần, con mèo hoang ăn vụng hết cơm của con chó nhà anh ta, anh nổi nóng, tóm cổ con mèo quăng từ lầu năm xuống đất. Một tình yêu gì đó mà anh ta nói với tôi mà bây giờ lại thể hiện qua hành động tàn nhẫn nầy thì làm sao tôi có thể chấp nhận những gì anh ta nói với tôi. Ðó là lý do tôi không thể nhớ những gì anh ta thuyết lý với tôi.
Một buổi chiều nọ, anh ta rũ tôi đi dự lễ tại nhà thờ tên là Kỳ Ðồng. Tôi cũng muốn đi thử xem sao, có chuyện gì trong đó. Tôi ngồi cạnh anh ta suốt buổi nói chuyện hay là giảng của người hướng dẫn, cho đến khi người đó yêu cầu mọi người phải quì xuống cầu nguyện. Tôi cũng bắt chước quì xuống giống như người ta, nhưng khi tôi vừa quì xuống thì anh ta ngăn tôi lại và nói tôi không được quì. Tôi tức như điên lên vì anh ta là ai mà anh ta không cho phép tôi quì xuống!
Kể từ đó, lòng hận ghét của tôi đối với những người tin Chúa lại càng cao hơn. Tôi căm ghét họ, tôi hát những bài ca nhạo báng Chúa. Lời nói của tôi càng cộc cằn đối với những người tin Chúa. Tôi xử dụng lời nói cho thật đay nghiến, thật châm chích.
Cha tôi ở trọ với một người bạn tù cải tạo. Tôi thường đến chơi cùng với hai cô em. Gia đình nầy là những người Công Giáo. Vì vị nễ họ cho cha tôi ở tro,ï nên tôi không có thái độ chống đối nào hết. Ngược lại hai bác và các cô em rất mến tôi. Có một lần, tôi được dịp hỏi những câu châm chích với cô em làm cho cô cuối đầu xụ mặt. Lúc đó tôi mới hả dạ. Rồi có một lần nọ, tôi đến chơi thì cả nhà bác đang xem một bộ phim, tôi không biết phim gì. Tôi cho là một bộ phim thời La Mã. Tôi cũng ngồi xem chơi, một lúc sau, tất cả mọi người bỏ đi đâu hết chỉ còn tôi ngồi một mình xem chăm chú bộ phim đó. Tôi thấy có một người trông rất nhân từ mà bị người ta đánh đập dã man rồi bị đóng lên cây thập tự giá. Bộ phim nầy nói bằng tiếng Anh, nên tôi không hiểu gì. Những hình ảnh đó làm tôi xúc động.
Cuộc sống cứ trôi dần, tôi cứ ôm hận ghét những người đi nhà thờ. Một đêm nọ, trong mùa lễ Giáng Sinh của dân Sài Gòn thật nhộn nhịp, người ta ăn mặt thật đẹp đi nhà thờ, còn tôi đứng một mình trên lan can lầu nhìn ra đường phố với những ánh đèn sáng rực. Tôi cảm thấy buồn cho cuộc đời mình. Tôi suy nghĩ không biết có Chúa thật không. Ðang suy nghĩ vẫn vơ thì tôi thấy một ánh sáng rất lạ xẹt ngang qua trước mặt tôi trên nền trời đầy sao. Tôi nghĩ là sao băng. Nhưng lòng tôi vẫn không nguôi căm ghét những người đi nhà thờ. Khi tôi chỉ còn vài tháng nữa thì được đi Mỹ theo diện H.O. Tôi ra Vũng Tàu thăm cô Hai của tôi. Ơû trên núi có bức tượng của Chúa giang tay thật lớn. Tôi nhạo báng bằng cách đứng ở dưới chân núi, nhờ cha tôi chụp hình lên, và tôi đứng chàn hảng rồi giang tay ra giống Chúa. Tấm hình nầy tôi vẫn còn giữ. Tôi căm ghét người đi nhà thờ, tôi nhạo báng Chúa… Khuôn mặt của tôi thì khó đăm đăm. Cũng trong thời gian đó, tôi cũng đã hoàn tất đọc các sách về Phật Giáo. Tôi thật là bất ngờ khi thấy những người tu theo đạo Phật không làm đúng như những gì ông Phật chỉ dẫn. Phật Thích Ca đâu có bảo con người tạc tượng để thờ lạy đâu? Phật Thích Ca chỉ ra con đường là ăn hiền, ở lành, lánh dữ thì họa chăng mai sau chết để được nhẹ tội. Phật Thích Ca lúc lâm chung đâu có nói Ngài có quyền cứu chuộc con người, đâu có quyền ban phước hay giáng họa. Sự sống và sự chết vẫn thuộc quyền ông Trời. Tôi không nói lên điều nầy để chê bai hay khích bác. Tôi cũng công nhận rằng Thái Tử Tất Ðạt Ða là một con người đầy lòng nhân hậu, cho nên ông mới lìa bỏ giàu sang mà đi tìm con đường cứu độ con người. Tôi không tìm thấy hy vọng nào nơi truyết lý Phật giáo, vì tôi biết chính con người của tôi là trông bề ngoài có vẽ hiền lành lắm, nhưng tôi là một con người đầy dẫy tội lỗi chất chứa bên trong…hận thù, ghen ghét, dâm dục, ích kỹ, gian dối, tham lam, kiêu ngạo, cãi lẫy, tranh đua, nhiều thứ khác nữa…thì làm sao tôi có thể hy vọng kiếp sau được làm con người huống gì muốn thành Phật! Có ai chắc rằng mình tu được một kiếp làm người thật tốt mà mình không có phạm một tội lỗi nào? Phải tu cho đến mười kiếp thật tốt thì mới được thành Phật mà về cõi Niết Bàn. Thật là một con đường không có ai có thể đi qua. Bạn nói rằng bạn là người tu thiền vài chục năm, thì làm sao bạn biết chắc rằng mình được lên Niết Bàn không?
Tôi thất vọng cho những gì mình dày công tìm kiếm. Khi tôi được lên chiếc máy bay lìa quê hương vào năm 1995, để đến Hoa kỳ, tôi được ngồi ngay cửa sổ. Tôi nhìn ra thấy cánh máy bay đang cong vút lên để chở hàng tấn lên trên không. Tôi bắt đầu run sợ. Tôi nói thầm trong bụng:
" Thượng Ðế ơi! Nếu Ngài thật hiện hữu xin giữ dùm cái cánh máy bay nầy cho tôi đến Mỹ bình an." Chúng tôi đến Mỹ được bình an, chuyến bay chỉ ghé Hồng Kông 2 giờ mà thôi.
Ðặt chân đến phi trường Sea-Tac WA, lòng tôi thật sung sướng, vui mừng vì tôi biết với đất nước tự do dân chủ nầy tôi sẽ có thực hiện được nhiều ước mơ. Một tháng sau đó, tôi phải đi vào downtown Seattle để làm thủ tục giấy tờ. Tiếng Mỹ nói chữ được chữ không, người Việt thì thật là khó tìm, tôi ngồi trên xe bus mà lòng thật sợ phập phôøng không biết mình có nhớ chỗ xuống xe không. Cho đến khi tôi trở ra trạm xe bus để về nhà, chỉ có một mình tôi, và đang suy nghĩ vẫn vơi. Tôi hoàn toàn quên hẳn đi mình đã cầu xin điều gì trên máy bay. Tôi nhìn xuống đất thấy một mãnh giấy nhỏ khá đẹp và nhặt lên để xem. Tôi thấy một dòng chữ thật to, viết bằng tiếng Anh "Jesus died for you and He is the brigde to let you go to Heaven" tạm dịch là 'Giê-xu đã chết thay cho bạn và Ngài là nhịp cầu để dẫn bạn vào Thiên Ðàng" Tôi vừa ngạc nhiên vừa xúc động. Tôi chỉ nói wow, có thiệt vậy sao? Ðơn giản vậy sao? Tôi lại thắc mắc: Jesus là ai nhỉ? Tôi suy nghĩ trong Kinh Thánh chắc sẽ có nói đến người nầy. Tôi ước thầm trong bụng nếu mình có được quyển Kinh Thánh bằng tiếng Việt để đọc thử xem. Lúc đó, tôi nghĩ điều mình ao ước có lẽ viễn vông vì sách chữ tiếng Việt ở xứ nầy không dễ gì tìm. Ai sẽ cho mình Kinh Thánh, và tìm mua ở đâu. Nhà thờ Việt Nam có ở đây không? Người Việt ở Seattle đông đảo, có chợ Việt Nam. Tuy nhiên đối với tôi là một người mới đến Mỹ chỉ một tháng và đang lang thang đi trong downtown Seattle thì thật là xa lạ.
Có hai người đàn ông Mỹ đến nhà tôi trong tuần đó. Họ là những người thuộc nhà thờ Catholic làm thiện nguyện, đi giúp đỡ những người nghèo. Tôi xin họ nếu các ông có Kinh Thánh bằng tiếng Việt thì cho tôi một quyển. Hai người đó nhìn nhau không nói gì cả, rồi họ chào cả nhà ra về…rồi không trở lại. Tôi tự hỏi không lẽ mình hỏi điều ấy xúc phạm đến họ? Rồi một tuần sau, cũng có hai người đàn ông Mỹ khác đến gõ cửa nhà tôi. Lần nầy, hai người nầy không nói gì về những sự giúp đỡ giống hai người trước. Họ xưng là Jehova Witnesses. Tôi mơiø họ vào nhà, tôi chỉ hiểu khoản 20% tiếng Mỹ nên không hiểu hết những gì họ đang nói cho tôi. Cuối cùng, họ hỏi tôi có cần Kinh Thánh không, tôi trả lời yes, nhưng mà bằng tiếng Việt. Họ đưa cho tôi một quyển Kinh Thánh bằng tiếng Việt dầy côïm của một hội thánh Tin Lành nào đó. Tối hôm ấy, tôi mở Kinh Thánh ra đọc, nhưng không hiểu gì hết. Cuối cùng tôi nói: " Thượng Ðế ơi! Nếu Ngài có thật thì cho tôi được hiểu quyển sách nầy" Tôi không nhớ ngay lúc đó hay là ngày hôm sau tôi bắt đầu đọc từ trang sách đầu tiên và bắt đầu hiểu và cảm thấy thật hứng thú. Tôi tiếp tục đọc và cố gắng đọc gần một năm. Thật ra tôi chỉ đọc vài lần trong tuần mà thôi, vì tôi còn phải lo việc học ở trường. Trong khoảng thời gian nầy, hai người đàn ông Jehova Witness mỗi tuần đến nhà tôi để thảo luận Kinh Thánh. Tôi chỉ muốn trau dồi tiếng Anh là chính yếu. Có những lúc tôi không muốn tiếp chuyện với họ bằng cách nói dối là không có nhà hoặc bận việc. Cũng trong thời gian đó, có nhiều người từ các giáo phái khác đến nhà tôi để giảng đạo, nào là Mormon, Baptist, Catholic…Tôi ít khi muốn gặp ho vì con người của tôi thật là cứng cỏi. Khi tôi vào học ở trường college, gặp những người bạn là những người tin Chúa. Họ mời tôi đi nhóm học Kinh Thánh. Mặc dầu tôi đã hiểu Lời trong Kinh Thánh, có niềm tin nơi Chúa Trời, nhưng tôi vẫn không có thể dứt bỏ được con người cũ của tôi. Nghe tới chuyện mời đi nhóm là bực mình rồi. Tôi muốn có một niềm tin vững chắc, nhưng thật là bối rối khi thấy đất Mỹ nầy có rất nhiều giáo phái. Tôi như đang đứng ở một ngã năm hay ngã sáu, không biết đường nào để đi. Tôi thầm nguyện : "Nếu có thể được, xin Chúa hãy dẫn tôi đến một hội thánh nào đó theo ý Ngài" Rồi một buổi chiều mùa hè 1996, khi tôi ở trường, trên đường đi ra bãi đậu xe để về nhà, tôi gặp anh bạn Việt nam mời tôi đi nhóm, chúng tôi qua lại đôi lời cảm thấy thích hợp, và chúng tôi ngồi xuống bãi cỏ để trò chuyện thêm và nói về quyền năng cùng phép lạ của Ðức Chúa Trời cho đến lúc mặt trời lặn sau núi. Lần nầy, tôi nhận lời anh ta để đến nhóm Yên Ủi tối thứ Sáu. Tôi nghĩ mình cũng nên nhập bọn cho cùng hướng với họ, vì tôi biết rằng trong nhà thờ thường thì có những cô gái dễ thương. Ngoài mục đích tôi muốn biết Chúa thì cũng muốn tìm hiểu các cô gái nữa. Khi đến nhóm, trong lúc mọi người cầm tay nhau cầu nguyện thì có một bạn trẻ hỏi tôi: "anh có muốn tiếp nhận Chúa Giê-xu không?" Tôi nghĩ: "ừ, mình thử xem sao", tôi đồng ý. Khi tôi bắt đầu mở miệng cầu nguyện tin nhận Cứu Chúa Giê-xu thì cảm nhận được nước mắt nóng hổi đang dâng trào lên đôi mắt tôi. Sau khi nói xong, lòng tôi sao cảm thấy nhẹ bỗng, giống như có người đến vác thế cho tôi bao lúa nặng triễu đang lúc tôi khó nhọc mang nó đi trên con đường xa. Sáng Chúa Nhật kế đến, tôi lái xe đến nhà thờ Thiên Ân theo địa chỉ. Trước đó, cũng một người bạn trẻ rũ tôi đi nhà thờ nầy. Anh ta sống bên South West Seattle, mà sẵn lòng qua bên vùng Rainier để đón tôi, lúc đó tôi nói "No".
Tôi thật ngỡ ngàng vì toàn là những người lạ. Sau buổi nhóm, Mục Sư Trang mời tôi vào phòng cầu nguyện….nước mắt tôi lại trào ra không phải vì đau khổ hay tủi nhục, nhưng mà là những dòng lệ sung sướng thật. Tôi vui mừng lắm, vì biết được giờ đây có Chúa Giê-xu dẫn dắt tôi lên thiên đàng như lời Ngài đã hứa:
"Hễ ai tin Ta thì được nhận sự sống đời… ai tin Ta thì tin Ðấng sai Ta đến…" Mừng vì tôi đã hiểu được sự cứu rỗi, sự sống đời đời không đến bởi sự cố gắng tu thân, ép xác làm điều thiện của tôi, mà chỉ nhờ vào tình yêu và tha thứ của Chúa Giê-xu. Cứu Chúa Giê-xu là Chân lý vĩnh hằng. Các bạn biết không, sự vui mừng đó không thể kiềm chế tôi được, tôi trở về nhà sau giờ lễ, tôi gọi ba má tôi ra và nói: "ba má ơi! Con đã tiếp nhận Chúa Giê-xu làm Chúa của đời con rồi! Mục Sư đã cầu nguyện cho con. Con có sự sống đời đời rồi!" Như là một tiếng sét đánh vào căn nhà tôi, từ hôm đó, ba má tôi đối xử tôi như là một kẻ phản đạo ông bà. Tôi đã đón nhận những lời lẽ đau xót thấu tim. Nhưng tôi không thể xa rời tình yêu của Chúa đã dành cho tôi. Với lòng quyết tâm, tôi sẵn sàng trả mọi giá để giữ vững miềm tin, để không lìa bỏ Cứu Chúa Giê-xu, vì Ngài là nguồn sự sống của tôi. Tôi muốn có sự sống bình an sung mãn của Ngài. Vâng, tôi đã có sự sống thật đó. Với tình yêu và sự sống của Chúa trong tôi, tôi sẵn lòng làm các việc lành, tôi ao ước thực hiện các công tác giúp đỡ anh em khác trong sự an vui thỏa lòng.
Bạn ơi! Dù bạn là người có nhiều kiến thức thâm sâu, bạn là người tu chánh thiện, bạn là người hiếu kính cha mẹ, ăn ở hiền lành nhất, nhân từ giúp đỡ kẻ nghèo khó.. dù bạn làm những gì tốt nhất của đời nầy, thì điều ấy không đủ điều kiện để bạn nhận được sự sống vĩnh hằng. Rồi bạn cũng sẽ chết mất đời đời, nếu bạn không chấp nhận sự sống của Chúa. "Ai không tin Chúa Giê-xu thì không có sự sống đâu", không mời Chúa Giê-xu làm Cứu Chúa của đời mình, bạn sẽ không được tha thứ tội lỗi, không có sự sống vĩnh hằng, và mọi công lao khó nhọc của bạn trên đời nầy là vô nghĩa.
Người ta có thể cho bạn một triết lý để sống, cho bạn luân lý, giáo lý.., nhưng họ không thể cho bạn sự sống vĩnh hằng Thiên Thượng của Ðấng Tạo Hóa vì họ cũng không có. Nếu bạn hỏi: "làm sao biết có một Ðấng Tạo Hóa sống?" Bạn thân mến, nếu cha mẹ tôi là những người chết trước khi có tôi thì tôi không thể có mặt trên cuộc đời nầy. Cha mẹ tôi thật sống thì mới sinh tôi ra sống. Ðức Chúa Trời thật sống thì mới tạo được muôn vật sống. Chúa Giê-xu phán: "Ta là đường đi, là lẽ thật, là sự sống. Không bởi Ta thì không ai được đến cùng Cha".
Tôi hy vọng rằng bạn tiếp nhận món quà quí giá nầy. Ðừng để cơ hội qua đi e khó tìm lại được. Nếu bạn bằng lòng đón nhận sự sống vĩnh hằng, thì hãy mạnh dạn thành tâm thưa với Chúa như sau:
Kính thưa Ðức Chúa Trời Toàn Năng Hằng Sống, hôm nay con biết con là kẻ có tội, con xin chấp nhận tình yêu của Ngài và mời Chúa Cứu Thế Giê-xu làm Chúa của cuộc đời con. Cầu xin Chúa tha thứ mọi tội lỗi gian ác trong con, xin Ngài rửa sạch tội lỗi con và làm cho con được trong sạch tâm thần. Xin Chúa ghi tên con vào sách sự sống của Ngài trên thiên đàng. Cầu xin Thánh Linh của Chúa hưỡng dẫn cuộc đời con từ hôm nay. Con vui mừng cầu xin trong danh của Ngài là Giê-xu, A-men.
Cảm ơn quí vị và các bạn.
Nguyễn Xuân Thanh Tuấn